[CHIA SẺ] Những phương thức nhuộm vải cổ truyề

Thảo luận trong 'Nguyên phụ liệu dệt may' bắt đầu bởi vanlien, 28 Tháng chín 2010.

Chia sẻ trang này

  1. vanlien

    vanlien Boss Bự

    Tham gia ngày:
    9 Tháng tám 2010
    Bài viết:
    850
    Đã được thích:
    61
    Điểm thành tích:
    0
    Nghề nghiệp:
    vanlien25041984
    Nơi ở:
    48/1- Quốc Lộ 13 cũ - Thủ Đức - HCM
    GS.TS Hoàng Thị Lĩnh (ĐH Bách Khoa Hà Nội) đã tìm ra công nghệ dùng lá cây, vỏ cây...để nhuộm vải sợi bông và lụa tơ tằm, thay cho phẩm màu nhân tạo.
    Theo PGS.TS Hoàng Thị Lĩnh (ĐH Bách Khoa Hà Nội), tác giả của công trình nghiên cứu, công nghệ trên còn góp phần bảo vệ môi trường do không cần dùng thuốc nhuộm tổng hợp. Ngoài ra, rất dễ chuyển giao cho nông dân để sản xuất hàng thủ công, góp phần xoá đói, giảm nghèo

    [​IMG]

    10 năm nghiên cứu
    Con đường đến với nghiên cứu này của PGS Lĩnh bắt đầu từ năm 1996 khi bà được một số tổ chức phi chính phủ mời tham gia vào dự án giúp dân tộc thiểu số nâng cao độ bền màu của thổ cẩm.
    Có một thực tế là rất ít chất nhuộm tự nhiên được sử dụng để nhuộm các loại vải hiện nay, kể cả tơ tằm. Đối với đồng bào thiểu số cũng vậy, họ thường dùng chất nhuộm tổng hợp, nếu dùng chất nhuộm tự nhiên thì chủ yếu là trong cây chàm.
    Là chuyên gia hoá nhuộm, trong quá trình tham gia dự án, PGS Lĩnh đã phát hiện trong thiên nhiên có sẵn các nguồn nguyên liệu làm chất nhuộm. Vậy làm sao cứ phải dùng chất nhuộm tổng hợp, gây ô nhiễm môi trường?
    Thế là hai năm sau, bà xin đăng ký đề tài khai thác sử dụng các chất nhuộm màu tự nhiên để nhuộm vải bông, lanh và tơ tằm. Trong phòng thí nghiệm, PGS Lĩnh đã sử dụng lá bàng, lá tre, lá thiên lý, lá xà cừ, lá găng, ngải cứu, lá bạch đàn, lá chè, lá hồng xiêm, vỏ cây sà cừ... để nhuộm vải sợi bông, lanh và vải tơ tằm.

    Ban đầu, bà làm bằng phương pháp thủ công: nấu lá lên để lấy dung dịch màu trong lá rồi nhúng vải vào nhuộm. Trong dung dịch màu có bổ sung một số chất làm tăng khả năng lên màu, đều màu, bền màu và tạo ra các ánh màu, gam màu khác nhau.
    Sở dĩ PGS Lĩnh dùng phương pháp tách chiết dịch màu là vì hai nguyên nhân.
    Thứ nhất, nếu tách chất màu trong lá rồi chế thành thuốc nhuộm tinh khiết thì sẽ rất tốn kém.
    Thứ hai, trong dung dịch màu có nhiều tạp chất và những tạp chất này góp phần tạo ra những gam màu trầm, tự nhiên mà không thể có được nếu dùng thuốc nhuộm tổng hợp. Dung dịch màu được tận dụng tối đa vì nước đầu tiên sẽ được dùng để nhuộm màu đậm, những nước còn lại sẽ cho các gam màu nhạt hơn.

    Quy trình công nghệ hoàn chỉnh
    Theo thời gian, PGS Lĩnh đã phát triển được ý tưởng về công nghệ, vừa tách dịch màu, vừa nhuộm vải trên thiết bị công nghiệp với số lượng lớn. Nguyên liệu sau khi thu gom được đưa vào bộ phận phụ trợ bên cạnh máy nhuộm để chiết dung dịch màu. Sau đó, dung dịch được đưa trực tiếp vào máy nhuộm để nhuộm vải như phương pháp nhuộm thông thường.
    PGS Lĩnh cho biết lá chè già (bị vứt bỏ trên các nông trường chè), hạt lương nho (hạt cà ri sẵn có trong miền Nam), lá hồng xiêm và lá bàng là những nguồn nguyên liệu dồi dào nhất, có thể được sử dụng trong sản xuất. Mỗi loại có thể tạo ra 5 gam màu khác nhau, từ đậm tới nhạt. Còn nếu phối các gam màu của các loại lá này với nhau thì sẽ tạo ra nhiều gam màu độc đáo hơn nữa.
    Kết quả nghiên cứu và thử nghiệm cũng khẳng định các màu tự nhiên này đặc biệt thích hợp với vải tơ tằm. Một phát hiện thú vị nữa trong quá trình nghiên cứu là lá chè có khả năng kháng nhàu cho lụa tơ tằm trong khi lá bàng và bạch đàn làm tăng khả năng kháng khuẩn cho sản phẩm.

    Một số khách nước ngoài đã tìm tới PGS Lĩnh hỏi mua vải tơ tằm được nhuộm bằng chất màu tự nhiên này song bà chưa thể đáp ứng do không có vốn để triển khai sản xuất.
    Trăn trở duy nhất của nhà khoa học tâm huyết này là tìm được người cộng tác để ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất quy mô lớn, vừa giảm thiểu ô nhiễm môi trường, vừa tạo ra sản phẩm có tính sinh thái cao, góp phần xoá đói giảm nghèo cho nông dân.
    Đã có một số người tìm đến hỏi về công nghệ nhuộm độc đáo này và PGS Lĩnh không ngần ngại tiết lộ bí quyết. Thế nhưng, sau đó bà không nghe tin gì về họ. Tiếc ư? hoàn toàn không vì đối với PGS Lĩnh, hạnh phúc lớn nhất là kết quả nghiên cứu được ứng dụng vào đời sống.

    Read more:
    http://community.h2vn.com/index.php?topic=10666.0#top#ixzz0ITg0MM5d&C

    1. Thuốc nhuộm màu chàm (Wikipedia.com)

    Thuốc nhuộm màu chàm hay thuốc nhuộm chàm hay bột chàm là một loại thuốc nhuộm với màu xanh chàm (xem bài màu chàm) dễ nhận ra. Thành phần hóa học tạo ra thuốc nhuộm màu chàm là indigotin. Người cổ đại chiết lấy thuốc nhuộm chàm tự nhiên từ một vài loài thực vật cũng như một trong hai loài ốc biển (Hexaplex trunculus hay Haustellum brandaris) nổi tiếng của người Phoenicia, nhưng gần như tất cả thuốc nhuộm màu chàm ngày nay đều được sản xuất bằng phương pháp tổng hợp.

    Trong số các ứng dụng của thuốc nhuộm màu chàm có sản xuất vải bông chéo (denim) cho loại quần áo bò (jeans) màu xanh chàm. Dạng của thuốc nhuộm màu chàm dùng cho thực phẩm được gọi là "indigotine", và nó được liệt kê tại USA như là FD&C Blue No. 2, và tại Liên minh châu Âu như là E132.

    [​IMG]
    Một cục thuốc nhuộm màu chàm

    1.1 Nguồn sử dụng

    Một số loài thực vật, như tùng lam (Isatis tinctoria), đã từng là nguồn cung cấp thuốc nhuộm chàm trong lịch sử, nhưng phần lớn thuốc nhuộm màu chàm tự nhiên là thu được từ các loài trong chi Chàm (Indigofera), có nguồn gốc từ khu vực nhiệt đới. Trong các khu vực có khí hậu ôn đới thuốc màu chàm cũng có thể thu được từ tùng lam (Isatis tinctoria) và nghể chàm (Polygonum tinctorum), mặc dù từ các loài trong chi Indigofera thì sản lượng thuốc nhuộm là cao hơn. Loài chàm có giá trị thương mại chủ yếu tại châu Á là cây chàm (Indigofera tinctoria). Tại Trung Mỹ và Nam Mỹ thì hai loài Indigofera suffruticosa (chàm anil) và Indigofera arrecta (chàm Natal) là quan trọng nhất.

    Bột màu chàm tự nhiên là nguồn thuốc nhuộm duy nhất cho tới năm 1900. Tuy nhiên, chỉ trong một khoảng thời gian ngắn thì bột màu chàm tổng hợp đã gần như thay thế hoàn toàn cho bột màu chàm tự nhiên.

    Tại Hoa Kỳ, công dụng chủ yếu của thuốc nhuộm màu chàm là trong sản xuất vải bông chéo để may quần áo bò. Trên một triệu bộ quần áo bò của thế giới được nhuộm màu chàm mỗi năm. Trong nhiều năm, thuốc màu chàm cũng được dùng để sản xuất len màu xanh nước biển sẫm.

    Màu chàm không liên kết quá bền với sợi vải vì thế việc mặc và giặt liên tục có thể làm bay màu của vải một cách chậm chạp

    Thuốc màu chàm cũng được sử dụng để tạo màu thực phẩm (FD&C Blue No. 2 hay E132) . Thông số cho FD&C Blue No. 2 bao gồm ba hóa chất, trong đó thành phần chính là muối indigotindisulfonat natri.

    Indigotinesulfonat natri cũng được sử dụng như là thuốc nhuộm màu trong thử nghiệm chức năng thận, như là thuốc thử để phát hiện các nitrat và clorat cũng như trong thử nghiệm sữa.
    [​IMG]
    Thuốc nhuộm màu chàm

    1.2 Lịch sử

    Thuốc nhuộm màu chàm là một trong các loại thuốc nhuộm cổ nhất được sử dụng để nhuộm màu trong công nghiệp dệt vải và in ấn. Nhiều quốc gia châu Á, như Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản v.v đã sử dụng thuốc nhuộm màu chàm trong nhiều thế kỷ. Thuốc nhuộm này cũng được các nền văn minh cổ đại khác ở Mesopotamia, Ai Cập cổ đại, Hy Lạp cổ đại, La Mã cổ đại, Anh tiền sử, Mesoamerica, Peru, Iran và châu Phi biết tới.

    Người ta coi Ấn Độ là trung tâm cổ nhất trong ngành thủ công nghiệp nhuộm màu chàm của Cựu thế giới. Đây cũng là nơi cung cấp đầu tiên thuốc nhuộm màu chàm cho châu Âu vào thời đại Hy-La. Sự gắn liền của màu chàm với Ấn Độ được phản ánh trong các từ trong tiếng Hy Lạp để chỉ loại thuốc nhuộm và vùng đất này, đó là indikon và Ἰνδία (India-Ấn Độ). Người La Mã sử dụng từ indicum, nó được chuyển qua và thể hiện trong tiếng Italia và cuối cùng là trong tiếng Anh với từ indigo.

    Tại vùng Lưỡng Hà (Mesopotamia), tấm bảng ghi bằng chữ hình nêm kiểu tân-Babilon trong thế kỷ 7 có đưa ra công thức để nhuộm màu len, trong đó len màu xanh da trời (uqnatu) được sản xuất bằng cách ngâm trong nước chàm và đưa quần áo ra ngoài không khí lặp đi lặp lại vài lần. Bột chàm có lẽ đã được nhập khẩu từ Ấn Độ.

    Người La Mã sử dụng thuốc màu chàm làm chất nhuộm màu cho thuốc màu và cho các mục đích y tế, mỹ phẩm. Đây là một xa xỉ phẩm do các thương nhân Ả Rập nhập khẩu từ Ấn Độ vào vùng ven Địa Trung Hải.

    Thuốc nhuộm màu chàm vẫn còn là mặt hàng khan hiếm tại châu Âu trong suốt thời kỳ Trung cổ. Thuốc nhuộm từ tùng lam, với thành phần hóa học đồng nhất, đã được sử dụng để thay cho thuốc nhuộm màu chàm.

    Vào cuối thế kỷ 15, nhà thám hiểm người Bồ Đào Nha là Vasco da Gama đã phát hiện ra hành trình đi biển để tới Ấn Độ. Điều này đã dẫn tới việc thiết lập quan hệ thương mại trực tiếp của người châu Âu với Ấn Độ, quần đảo Gia vị, Trung Quốc, Nhật Bản. Các nhà nhập khẩu đã có thể tránh các khoản thuế nặng nề do các trung gian người Ba Tư, Levant và Hy Lạp đặt ra cũng như độ dài của các hành trình đường bộ đầy nguy hiểm đã từng được sử dụng trước đây. Kết quả là việc nhập khẩu và sử dụng thuốc nhuộm màu chàm tại châu Âu cũng gia tăng đáng kể. Phần lớn thuộc nhuộm màu chàm dùng tại châu Âu đến từ châu Á thông qua các hải cảng tại Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh. Tây Ban Nha nhập khẩu thuốc nhuộm này từ các thuộc địa của mình ở Nam Mỹ. Nhiều đồn điền trồng chàm được các quốc gia châu Âu hùng mạnh thiết lập tại các vùng nhiệt đới; với sản lượng lớn tại Jamaica và South Carolina, trong đó sức lao động chủ yếu là của các nô lệ da đen châu Phi hay châu Mỹ gốc Phi. Các đồn điền chàm cũng phát triển tại quần đảo Virgin. Tuy nhiên, Pháp và Đức đã đặt việc nhập khẩu thuốc màu chàm ra ngoài vòng pháp luật vào thế kỷ 16 để bảo hộ cho công nghiệp sản xuất thuốc màu từ tùng lam của cư dân bản xứ.

    Màu chàm là nền tảng trong nhiều thế kỷ cho các truyền thống dệt may ở Tây Phi. Từ những người dân du cư Tuareg ở sa mạc Sahara tới Cameroon, quần áo nhuộm chàm là biểu hiện của sự giàu có. Phụ nữ nhuộm chàm quần áo ở phần lớn các khu vực, với người Yoruba ở Nigeria và người Manding ở Mali là những người rất thành thạo trong công việc của họ. Những thợ nhuộm Hausa là nam giới làm việc tại các hố nhuộm chàm của cộng đồng đã từng là nền tảng của sự giàu có của thành phố cổ Kano, và ngày nay người ta vẫn có thể nhìn thấy họ miệt mài làm công việc của mình tại các hố nhuộm đó.

    Tại Nhật Bản, bột chàm là đặc biệt quan trọng trong thời kỳ Edo khi nước này bị cấm nhập khẩu lụa và người Nhật bắt đầu nhập khẩu và trồng bông. Rất khó để nhuộm màu cho sợi bông, ngoại trừ dùng bột chàm. Thậm chí ngày nay, màu chàm vẫn là thích hợp cho kimono mùa hè Yukata, do y phục truyền thống này gợi nhớ lại thiên nhiên và biển xanh.

    Năm 1865 nhà hóa học người Đức là Johann Friedrich Wilhelm Adolf von Baeyer bắt đầu làm việc với thuốc nhuộm màu chàm. Công trình của ông lên đến đỉnh điểm trong việc lần đầu tiên tổng hợp ra thuốc nhuộm màu chàm vào năm 1880 từ o-nitrobenzalđêhít và axeton bằng việc bổ sung hiđrôxít natri hay hiđrôxít bari hoặc amoniac loãng và việc thông báo về cấu trúc hóa học của nó vào 3 năm sau. BASF đã phát triển quy trình sản xuất có thể khả thi về mặt thương mại và được sử dụng vào năm 1897, còn tới năm 1913 thì thuốc nhuộm màu chàm tự nhiên đã gần như bị thay thế hoàn toàn bằng thuốc nhuộm màu chàm tổng hợp. Vào thời điểm năm 2002, 17.000 tấn thuốc nhuộm màu chàm tổng hợp đã được sản xuất trên khắp thế giới.

    Trong thế kỷ 19, người Anh mua phần lớn thuốc nhuộm màu chàm từ Ấn Độ. Với sự ra đời của chất thay thế theo phương pháp tổng hợp thì nhu cầu về thuốc nhuộm màu chàm tự nhiên đã giảm xuống và các trang trại trồng chàm không còn đem lại lợi nhuận nữa.

    Trong văn chương, vở kịch Nildarpan của Dinabandhu Mitra (1830-1873) được viết dựa trên cuộc sống của các nô lệ và cảnh lao động cưỡng bức của họ trong việc trồng chàm ở Ấn Độ khi đó. Nó đóng một vai trò quan trọng trong cuộc nổi dậy của người Bengal năm 1858 gọi là Nilbidraha.

    1.3 Phát triển trong công nghệ nhuộm

    Bột chàm (Indigo) là thuốc nhuộm khó sử dụng do nó không hòa tan trong nước; để hòa tan, nó cần phải trải qua một số biến đổi hóa học. Khi vải cần nhuộm được đưa ra khỏi bể nhuộm, bột chàm nhanh chóng kết hợp với ôxy trong không khí và chuyển hóa thành dạng không hòa tan. Khi lần đầu tiên nó có tương đối sẵn tại châu Âu vào thế kỷ 16, các thợ nhuộm và thợ in châu Âu đã gặp nhiều khó khăn với bột chàm do tính chất đặc biệt này. Nó cũng là hóa chất có khả năng gây ngộ độc do đòi hỏi một vài biến đổi hóa học, và do vậy có nhiều cơ hội gây thương tổn cho người lao động. Trên thực tế, trong thế kỷ 19, nhà thơ người Anh William Wordsworth đã nói tới những hoàn cảnh gian khổ của các công nhân làm nghề nhuộm chàm ở thành phố quê hương ông là Cockermouth trong bài thơ tự truyện của ông "The Prelude". Để nói về điều kiện làm việc kinh khủng của họ và lòng cảm thương mà ông dành cho họ, ông đã viết, "Doubtless, I should have then made common cause/ With some who perished; haply perished too,/ A poor mistaken and bewildered offering - / Unknown to those bare souls of miller blue."

    Quy trình tiền công nghiệp để nhuộm màu bằng bột chàm được sử dụng tại châu Âu là hòa tan bột chàm trong nước tiểu để lâu. Nước tiểu khử bột chàm không hòa tan trong nước thành chất hòa tan trong nước gọi là bột chàm trắng hay leucoindigo, nó sinh ra dung dịch màu lục-vàng. Vải nhuộm trong dung dịch này sẽ chuyển thành màu chàm sau khi bột chàm trắng bị ôxi hóa và trở thành bột chàm. Urê tổng hợp để thay thế cho nước tiểu chỉ có trong thế kỷ 19.

    Một phương pháp tiền công nghiệp khác, sử dụng tại Nhật Bản, là hòa tan bột chàm trong bể chứa nung nóng, trong đó mẻ cấy vi khuẩn ưa nhiệt và kỵ khí được duy trì. Một vài loài vi khuẩn sinh ra hiđrô như là sản phẩm của quá trình trao đổi chất của chúng, nó có thể chuyển hóa bột chàm không hòa tan thành bột chàm trắng hòa tan. Vải nhuộm trong các bể chứa này được trang trí bằng các kỹ thuật shibori, kasuri, katazome, tsutsugaki. Các ví dụ về quần áo được nhuộm bằng các kỹ thuật này có thể nhìn thấy trong các tác phẩm của Hokusai và các nghệ sĩ khác.

    Hai phương pháp khác để áp dụng trực tiếp bột chàm được phát triển tại Anh trong thế kỷ 18 và được sử dụng nhiều trong thế kỷ 19. Phương pháp thứ nhất, gọi là pencil blue (bút chì lam) do nó được áp dụng chủ yếu bằng bút chì hay chổi, có thể được sử dụng để thu được tông màu sẫm. Trisulfua asen và chất làm đặc được thêm vào bể chứa bột chàm. Hợp chất của asen làm chậm quá trình ôxi hóa của bột chàm đủ kéo dài để quét lớp thuốc nhuộm lên trên vải.

    Phương pháp thứ hai gọi là china blue (lam Trung Hoa) do nó tương tự như sứ men lam-trắng của Trung Quốc. Thay vì sử dụng dung dịch bột chàm trực tiếp, quy trình sẽ là việc in dạng không hòa tan của bột chàm lên trên vải. Bột chàm sau đó bị khử trong một chuỗi các bể chứa sulfat sắt (II), với quá trình ôxi hóa giữa mỗi lần ngâm nước. Quy trình china blue có thể tạo ra các kiểu mẫu sắc nét, nhưng nó không thể tạo ra tông màu sẫm như ở phương pháp pencil blue.

    Vào khoảng năm 1880 quy trình glucoza được phát triển. Nó đã cho phép có khả năng in trực tiếp bột chàm lên vải và có thể tạo ra các bản in bột chàm sẫm màu không đắt tiền mà không thể đạt được với phương pháp china blue.

    1.4 Thuộc tính hóa học

    Bột chàm là chất bột kết tinh màu lam sẫm, nóng chảy ở 390°-392°C. Nó không hòa tan trong nước, rượu, ête nhưng hòa tan trong cloroform, nitrobenzen, axít sulfuric đặc. Cấu trúc hóa học của bột chàm tương ứng với công thức C16H10N2O2.

    Chất có nguồn gốc tự nhiên là indican, nó không màu (hay màu trắng) và hòa tan trong nước. Indican có thể dễ dàng bị thủy phân để tạo ra glucoza và indoxyl. Các chất ôxi hóa nhẹ, như phơi nhiễm ra không khí, chuyển hóa indoxyl thành bột chàm.
    [​IMG]

    Quy trình sản xuất đã phát triển vào cuối thế kỷ 19 hiện vẫn còn được sử dụng trên khắp thế giới. Trong quy trình này, indoxyl được tổng hợp bằng cách nấu chảy phenylglyxinat natri trong hỗn hợp của NaOH với sodamid.
    Một vài hợp chất đơn giản hơn cũng có thể được sản xuất bằng cách phân hủy indigo; các hợp chất này bao gồm anilin và axít picric. Phản ứng hóa học có tầm quan trọng thực tế duy nhất là khử nó bằng urê thành bột chàm trắng. Bột chàm trắng bị tái ôxi hóa thành bột chàm sau khi nó được dùng để nhuộm vải.
    Bột chàm xử lý với axít sulfuric sinh ra chất có màu lam-lục. Nó đã có sẵn từ giữa thế kỷ 18. Bột chàm được sulfonat hóa còn gọi là lam Saxon hay indigo cacmin.

    Tía Tyre là thuốc nhuộm màu tía có giá trị trong thời cổ đại. Nó được sản xuất từ các chất bài tiết ra của các loại ốc biển vùng Địa Trung Hải. Năm 1909 cấu trúc hóa học của nó được thể hiện là 6,6′-dibromoindigo. Nó chưa bao giờ được sản xuất tổng hợp trên nền tảng thương mại.

    Cấu trúc SMILES của indigo là S=O=c3c(=c2[nH]c1ccccc1c2=O)[nH]c4ccccc34 và số CAS là 12626-73-2.
    [​IMG]

    1.5 Tổng hợp hóa học

    Bột chàm có thể sản xuất theo phương pháp tổng hợp bằng nhiều cách. Phương pháp nguyên bản, lần đầu tiên được Heumann sử dụng năm 1897 để tổng hợp bột chàm là nung nóng axít N-(2-cacboxyphenyl)glyxin tới 200°C trong khí trơ với NaOH. Nó sinh ra axít indoxyl-2-cacboxylic, một chất dễ dàng bị khử cacboxylat và ôxi hóa trong không khí thành bột chàm.
    [​IMG]
    Phương pháp nguyên bản của Heumann trong tổng hợp bột chàm (indigo).
    Phương pháp tổng hợp hiện đại của bột chàm là khác biệt một chút với phương pháp nguyên bản và việc phát minh ra phương pháp này được coi là của Pfleger vào năm 1901. Trong quy trình này, N-phenylglyxin được xử lý bằng các chất kiềm nóng chảy (NaOH hay KOH) chứa sodamid (NaNH2). Nó sinh ra indoxyl, sau đó chất này bị ôxi hóa trong không khí thành bột chàm.
    [​IMG]
    Phương pháp Pfleger trong tổng hợp bột chàm
    2. NHUỘM TƠ TẰM BẰNG THUỐC NHUỘM TỰ NHIÊN ĐƯỢC CHIẾT XUẤT TỪ LÁ CÂY TÍA TÔ TÂY
    (Bài viết được đăng trên website của Bộ Công Thương-Vụ Khoa học Công nghệ-Thông tin khoa học công nghệ)

    [​IMG]

    2.1 LỜI GIỚI THIỆU

    Sự bắt đầu của một thiên niên kỷ mới đảm bảo đem đến rất nhiều thay đổi quyết liệt trong cuộc sống con người. Một trong những sự biến chuyển này là hướng tới những loại thuốc nhuộm tự nhiên và cách sử dụng chúng sao cho có hiệu quả so với loại thuốc nhuộm tổng hợp là loại hoá chất hiện đang mất dần chỗ đứng do những nhận thức mang tính quốc tế về bảo vệ môi trường và sinh thái. Với loại thuốc nhuộm tự nhiên không ô nhiễm hiện đang xuất hiện như là một sự lựa chọn hoàn hảo do chúng không độc hại và dễ sử dụng.

    Trong bối cảnh hiện nay, thuốc nhuộm tự nhiên là chất tạo màu trong ngành dệt và may mặc thời trang ngày càng thích đáng hơn so với trước đây ở bên trong và bên ngoài đát nước (Ấn độ). Đây là một quốc gia mà đang có một mạng lưới đang phát triển bao gồm các nhà nghiên cứu thuốc nhuộm tự nhiên, những nhà sản xuất, nhà tổ chức và người tiêu dùng. Do đó, toàn cảnh hiện nay của việc thúc đẩy sử dụng thuốc nhuộm tự nhiên là rất lạc quan và nhiều hứa hẹn.

    Nghề thủ công cổ đại sử dụng thuốc nhuộm tự nhiên đang được hồi phục lại trong các ngành dệt thoi, dệt kim và những người công nhân sản xuất kim dệt phát hiện lại những đặc tính mềm mại, mỏng, bóng láng và hơn tất cả đó là màu sắc sống động đồng thời cùng với việc phát hiện ra được rất nhiều màu sắc rõ nét, tươi sáng. Thuốc nhuộm tự nhiên bền vững trong thời gian dài và lưu giữ được vẻ đẹp và sự quyến rũ tuyệt vời. Chúng tạo ra được một sự phối hợp hài hoà giữa những gam màu và nếu như màu sắc phai đi thì tạo ra những ánh màu câm tuyệt vời.

    Có rất nhiều thời gian để tập trung vào nghiên cứu về các phương pháp chiết xuất, nguồn đầu vào rẻ, mới mẻ để sản xuất ra một lượng vừa đủ những chất màu tự nhiên, an toàn và có thể tồn tại độc lập được mà có thể lấy lại được những danh tiếng từ trước, ít nhất là thay thế được với loại thuốc nhuộm tổng hợp.

    2.2 CÁC BƯỚC THÍ NGHIỆM

    Lựa chọn vải thí nghiệm

    Loại vải tơ tằm được chọn để nghiên cứu là loại vải cho ánh màu rực rỡ với loại thuốc nhuộm đã chọn.

    Tiền xử lý vải lụa tơ tằm

    Người ta chuẩn bị dung dịch bột giặt trung tính (Genteel) chứa 0,5ml genteel/100ml nước và được đun nóng đến 50 độ C. Vải tơ tằm được nhúng vào trong dung dịch này và khuấy nhẹ trong 30 phút. Sau đó, vải được giũ trong nước máy, phơi trong bóng râm và là khi còn ẩm.

    2.2.1 Chọn thuốc nhuộm

    Cây tía tô tây là một loại cây thảo mộc lâu năm nhưng thuộc loại cây bụi nhỏ. Một tán lá nhỏ có kích thước từ 30 - 60cm, giống như cây khổ sâm có nhiều đốm màu khác nhau trên lá. Với những vết, sọc, chấm của những màu sắc đối lập nhau trên tán lá cây thì những gam màu như xanh lá cây nhạt, nâu, hạt dẻ, màu tía, đồng thiếc, màu đồng,... cùng hoặc không cùng với mép diềm lá, vỏ sò tạo vẻ đẹp như bức tranh. Những cây này yêu cầu nhiệt độ tối thiểu là 55 độ C và phải được đất màu mỡ, đủ ánh nắng.

    2.2.2 Chọn chất cầm màu

    Ở đây người ta đưa ra nghiên cứu ba chất cầm màu kim loại đó là sunphát nhôm kali, sunphát đồng và sunphát sắt và ba chất cầm màu tự nhiên với tên gọi Bahera, vỏ cây Pomegranate và lá cây chè. Với mối chất cầm màu thí nghiệm với bốn nồng độ khác nhau đó là .05, .10, .15 và .20gm cho nhôm; .01, .02, .03 và .4gm cho sunphát đồng và sunphát sắt; 1, 2, 3 và 4gm cho tương ứng với Bahera, vỏ cây Pomegranate và lá cây chè. Các nhà nghiên cứu cũng tiến hành ba cách cầm màu đó là cầm màu trước, trong và cầm màu sau.

    2.2.3 Đánh giá các biến sô nhuộm

    Người ta tiến hành thực hiện một loạt các thí nghiệm để xác định các biến số nhuộm chẳng hạn như nồng độ trích ly trung bình và tối ưu của nguyên liệu nhuộm, thời gian trích ly, thời gian nhuộm, nồng độ chất cầm màu và phương pháp cầm màu.

    * Môi trường trích ly để nhuộm

    Thuốc nhuộm từ lá cây tía tô tây được chiết xuất từ kiềm, axít và nước trung tính. Người ta chuẩn bị axít trung tính bằng cách cho 1ml axít hyđrôcloric vào trong 100ml nước. Kiềm trung tính được chuẩn bị bằng cách cho 1gm Na2CO3 vào 10ml nước. Sau đó nguyên liệu nhuộm được cho vào từng dung dịch và đung nóng lên tơi 60 độ C trong thời gian 1 giờ đồng hồ. Với mỗi phần chiết thuốc nhuộm, cho một lượng vải tơ tằm đã biết bào và nhuộm trong 60 phút. Phương pháp nhuộm này cho màu sắc trên tơ tằm đẹp nhất và cách này được chọn để nghiên cứu về sau.

    * Nồng độ nguyên liệu nhuộm

    Chuẩn bị năm nồng độ nguyên liệu nhuộm khác nhau bằng cách đun nóng 2, 4, 6, 8 và 10gm nguyên liệu nhuộm trong 100ml nước ở nhiệt độ 80 độ C trong 1 giờ. Sau đó dung dịch này được lọc và làm lạnh.

    Mật độ quang học của dung dịch nhuộm trước và sau khi nhuộm được ghi lại và phần trăm thấm hút nước cũng được tính toán. Nồng độ chỉ ra cho thấy phần trăm thấm hút nước cao nhất đã được chọn là nồng độ tối ưu để nghiên cứu thêm.

    * Thời gian tận trích thuốc nhuộm

    Năm mức nồng độ thuốc nhuộm được chọn, mỗi loại bao gồm 100ml nước axít và được đun lần lượt trong 30, 45, 60, 75 và 90 phút. Với mỗi dung dịch tận trích, người ta cho vào đó một lượng vải tơ tằm đã cho và nhuộm trong 60 phút. Vải nhuộm được giặt bằng nước và phơi trong bóng râm. Phần trăm hấp thụ nước được tính cho riêng từng mẫu và trên cơ sở các kết quả thu được sẽ tối ưu hoá thời gian nhuộm tận trích.

    * Thời gian nhuộm

    Năm dung dịch nhuộm của lá tía tô tây được chuẩn bị bằng cách tận trích thuốc nhuộm với nồng và thời gian tận trích tối ưư trong 100ml nước. Việc nhuộm các mẫu vải tơ tằm trước giặt được tiến hành lần lượt trong 30, 45, 60, 75 và 90 phút./
    3. Nhuộm vải bằng chất mầu chiết xuất từ thảo mộc
    (đăng trên báo Nhân Dân)

    Các chuyên gia Phòng Hóa nhuộm và xử lý hoàn tất sản phẩm dệt - may (Khoa Công nghệ dệt - may và thời trang, Trường đại học Bách khoa Hà Nội) đã hoàn thiện công nghệ nhuộm vải cotton, vải tơ tằm bằng chất mầu tự nhiên được chiết xuất từ lá các loại cây sẵn có ở nước ta như: chè, bàng, bạch đàn, hồng xiêm, sắn dây, thiên lý, tre...

    Ðây là công nghệ dựa trên kỹ thuật truyền thống của đồng bào các dân tộc địa phương, nhưng đã được nâng lên bằng những kỹ thuật mới nên màu vải sau khi nhuộm bền hơn, sặc sỡ hơn và vải ít bị nhàu. Ðiều quan trọng hơn là nó có ưu điểm về khả năng bảo vệ da, tính kháng khuẩn cao và nước thải trong quá trình nhuộm không hủy hoại môi trường như các loại thuốc nhuộm có nguồn gốc từ hóa chất.

    Ðề tài này được hình thành từ những chuyến đi thực tế của PGS-TS Hoàng Thị Lĩnh tới vùng đồng bào dân tộc thiểu số chuyên nhuộm vải thổ cẩm thủ công bằng lá chàm và củ nâu ở Lạng Sơn, Sơn La, Lào Cai, Hòa Bình. Nhưng nguồn nguyên liệu này ngày càng khan hiếm. Hầu hết bà con dân tộc phải sử dụng hóa chất để thay thế vừa dễ bị phai, vừa có hại cho da. Vì thế tác giả đã nghiên cứu, đưa các loại lá vào tách chiết lấy dung dịch màu, sau đó bổ sung một số hợp chất có tỷ lệ thích hợp và cho vải vào nhuộm đều.

    Ðể tăng số lượng vải cho một lần nhuộm, đồng thời bảo đảm đồng đều của màu trên vải nhuộm, nhóm nghiên cứu đã hoàn thiện quy trình công nghệ nhuộm đơn giản: Sau khi thu gom nguyên liệu, rửa sạch đưa vào bộ phận phụ trợ có nhiệm vụ tách chiết lấy dung dịch chất mầu rồi chuyển vào máy nhuộm. Trong bộ phận máy nhuộm, thiết kế thêm giỏ lọc tạp chất từ nguyên liệu. Mỗi lần nhuộm ít nhất cũng phải đạt công suất 200 m vải/lần.

    Mỗi loại lá cây cho ít nhất năm loại mầu khác nhau và khi tận dụng dung dịch loãng của hai loại cây khác nhau sẽ cho ra nhiều loại mầu phong phú.
    [​IMG]
    4. Nhuộm Thâm
    (
    http://blog.timnhanh.com/docongkysuu/comment/nhuom-mau-xua.35AB2062.html)

    Truyền thuyết kể rằng, khi quân Mã Viện đuổi hai bà Trưng Trắc, Trưng Nhị, tới một làng, quân Mã chợt hoa mắt vì thấy những sào vải đen phơi dọc ngang không biết lối nào mà lần. Quân Mã sợ rơi vào trận đồ bát quái của hai bà, đành quay ra tìm đường khác. Ngôi làng trong truyền thuyết khiến quân Mã Viện phải hốt hoảng ấy chính là Huê Cầu, thuộc tổng Huê Cầu, huyện Tế Giang (sau thuộc Văn Giang), phủ Thuận An (sau đổi phủ Thuận Thành), trấn Kinh Bắc, nay thuộc thôn Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Mỹ Văn, tỉnh Hưng Yên. Còn những sào vải đen khiến quân giặc tưởng là "trận đồ bát quái" kia, chính là nghề tổ của làng - nghề nhuộm thâm.
    Ai lên Đồng Tỉnh,
    Huê Cầu Đồng Tỉnh bán thuốc,
    Huê Cầu nhuộm thâm
    Nào ai đi chợ Thanh Lâm
    Mua anh một áo vải thâm hạt dền...,

    [​IMG]

    Nói quanh nói quẩn những Đồng Tỉnh, Huê Cầu, Thanh Lâm, thì chẳng qua cũng là một lời tỏ tình, kiểu Hôm qua tát nước đầu đình..., áo nhuộm thâm là cái cớ, nhưng cái cớ ấy từng là một phần không thiếu được trong đời sống người nông dân Việt Nam.

    Trong số gần 500 làng nghề từng tồn tại ở đồng bằng sông Hồng, làng ươm tơ dệt vải có lẽ là làng nghề đông nhất. Dọc theo các con sông, các bãi bồi đều là những bãi dâu rười rượi, và nhất định phía trong những bãi dâu ấy có lanh canh tiếng thoi đưa cửi dệt. Nhưng trừ Huê Cầu ra, không thấy nói đến làng nào có nghề nhuộm. Các cụ bà Nguyễn Thị Thoan (làng dệt Đại Mỗ), Nguyễn Thị Mùi (làng dệt La Khê) đều cho biết làng chỉ dệt vải rồi mang vải mộc ra chợ Đình (chợ đình làng) hoặc chợ Hà Đông bán cho lái buôn. Nơi sẽ nhuộm tất cả thứ vải lụa ấy rồi đem bày bán chính là phường Hàng Đào nơi Kẻ Chợ. Hàng Đào nổi tiếng về nhuộm điều, các mầu đỏ, hồng, hoa đào... Đến thế kỷ 18, trong Thượng Kinh phong vật chí ghi chép lại thì: "Phường Hàng Đào làm nghề nhuộm mầu: mầu trắng như tuyết, mầu đỏ như tiết, mầu đen như mực... Mầu vàng là chính. Màu tạp thì có mầu hoa hiên, thiên thanh, hoa đào, cánh trả, quan lục, không mầu nào giống mầu nào". Rồi thì người Hàng Đào cũng bắt đầu "chuyên môn hóa" công việc, theo nhà nghiên cứu Chu Quang Trứ trong Tìm hiểu làng nghề thủ công điêu khắc cổ truyền, Hàng Đào chỉ giữ lại việc nhuộm điều, chuội trắng nhờ bên Cầu Gỗ, còn lại giao cho Hàng Thợ Nhuộm... (đều thuộc Hà Nội). Duy có một thức nhuộm mà phường Hàng Đào không khi nào tự làm được, ấy là nhuộm thâm (đen). Bởi nhuộm thâm thời ấy, tất cả bằng mầu thực bắt buộc phải có... bùn, người Hàng Đào phải giao vải mộc về nơi khác, và Huê Cầu chính là nơi nổi tiếng về cái thức nhuộm rất dân dã và cũng rất lạ lùng này. Cứ theo truyền thuyết thì nghề nhuộm thâm ở Huê Cầu cũng có ngót nghét 2.000 năm !

    Người Huê Cầu nhún nhường lắm về nghề tổ của làng mình: Ruộm (nhuộm) thâm chẳng hết bao nhiêu/Hết một nắm đất với niêu lá sòi. Nhưng cái "chẳng hết bao nhiêu" ấy kể ra thì những nhà nhuộm bây giờ nghe cũng phức tạp: Đầu tiên phải nhuộm gụ bằng củ nâu, đun trong nước lá sòi (một loại cây thân gỗ mọc hoang), có nơi dùng lá bàng, hoặc hạt dền như trong câu ca dao, sau đó lấy bùn trát kín, việc trát bùn phải được làm đi làm lại vài lần. Sau khi nhuộm xong, tấm vải không đen nhánh, không đen bóng, mà có mầu đen thâm, bàng bạc, song hầu như không bao giờ phai. Các khe của sợi vải sau khi nhuộm sẽ được lấp kín, tấm vải cực kỳ dai và bền, dày dặn nhưng mặc lại không nóng, không bí. Chuyện rằng có những người mẹ nghèo, đêm ngủ dùng váy thâm lót cho con, tấm váy này có tác dụng như một tạ giấy thời hiện đại, chính được may bằng loại nái (một loại vải dày) nhuộm bùn. Trước đây, những mầu sắc rực rỡ thường chỉ được dùng trong các ngày lễ hội.

    Trong đời sống thường ngày, nhất là đối với người lao động, mầu vải thâm vẫn là gam mầu chính. Một anh chàng nhắn gửi "ai" đó: Mua anh một áo vải thâm hạt dền. Sau này khi Nguyễn Đình Thi viết về Đất nước Gái trai cũng một áo nâu nhuộm bùn, không biết có phải là tấm áo đó không ? Và không chỉ thế, người Huê Cầu còn tự hào vì nghề nhuộm của mình đã ra khỏi làng, vào cả những nơi chốn cao sang.

    Theo gia phả họ Cao, ở làng có cụ Cao Quý Công từng được triều đình nhà Nguyễn vời vào kinh đô Huế nhuộm vải vóc cho hoàng tộc.
    Nhưng đấy là chuyện của những thế kỷ trước. Bây giờ đến Huê Cầu hỏi làng nghề, người trẻ thì gãi đầu cười trừ. Mấy bà bán hàng đầu chợ nói rằng làm gì còn ai nhuộm. Cách Huê Cầu khá xa (về thị xã Hải Dương rồi đi thêm chừng 10 km nữa), ở huyện Nam Sách còn chợ Thanh Lâm. Không ai hiểu tại sao cái áo nhuộm thâm ở Huê Cầu lại có thể lưu lạc đến một cái chợ cách nó đến 40-50 km, xưa kia đấy là một khoảng cách đáng kể. Hóa ra, chợ Thanh Lâm trong câu ca xưa không phải ở Nam Sách, Hải Dương. Theo bác Tô Xuân Thạch, nhà giáo về hưu đã bỏ nhiều năm tìm lục lại sử sách về làng, đó là chợ Thanh Lâm (hay Cách Lâm) nằm ở đầu làng Lê Cao bên cạnh Huê Cầu. Khi quân Hán đô hộ Việt Nam, khu gia binh của thành Luy Lâu được đặt trên đất Xuân Cầu, hình thành nên khu chợ gần đấy. Chợ Thanh Lâm này còn có ngôi quán mang tên Hàng Vải, đây chính là nơi bán sản phẩm nhuộm đặc trưng của làng.Nay thì chợ Thanh Lâm ấy cũng không còn, khi dân làng đào đất làm lò gạch phát hiện nhiều nền phế tích xưa, trong đó có cả nền quán Hàng .
    Hàng Vải mất, Thanh Lâm cũng chẳng còn, làng mất nghề, chỉ còn lại độc cái tên từng ghi dấu vào ca dao một thuở, dân làng chủ yếu chạy chợ và đi làm thuê ngoài Hà Nội. Mấy năm nay, Huê Cầu cũng muốn mở lại hội làng, nhưng bàn đi bàn lại chẳng biết nên tổ chức thế nào. Vì đình chùa miếu mạo không còn, nghề tổ cũng mất (ngoài nghề nhuộm, Huê Cầu còn có đặc sản bánh mỡ song cũng đã thất truyền), thế hệ trẻ gần như không biết chút gì về quá khứ xưa. Bác Thạch ngậm ngùi nói một câu nghe chừng rất đúng với Huê Cầu bây giờ: Thế mới hiểu những giá trị truyền thống có ý nghĩa như thế nào trong đời sống hiện đại.
    Làng Huê Cầu không còn ai biết nghề nhuộm thâm, nhưng đất dệt xứ bắc vẫn còn. Làng Nội Duệ (Bắc Ninh) có bà Năm nay đã ngoại 80 là người sót lại cuối cùng của làng chuyên sống bằng nghề nhuộm thuê. Tay bà vài hôm lại có một mầu: khi xanh, khi đỏ, lúc tím, lúc lại vàng. Đấy là mầu của thuốc nhuộm, bây giờ là thuốc hóa học, nhuộm xong bà lại phải dùng thuốc hóa học khác để rửa phòng thuốc nhuộm ăn vào da. Trước kia nhuộm màu tự nhiên bà không phải lo điều ấy, mà vải không phai, bây giờ thuốc hiện đại, mầu phai, bà thắc mắc lắm. Bây giờ cũng không ai thuê bà nhuộm thâm nữa, nhưng nếu bạn muốn, bà vẫn sẵn sàng

    5. Lãnh Mỹ A (Tân Châu-An Giang)
    (Theo báo Điện tử Đại học An Giang)

    Lãnh Mỹ A- là một thương hiệu nổi tiếng của lụa Tân Châu. Quê hương xứ lụa Tân Châu là một làng nghề một thời vang bóng nhưng nay đã mai một rất nhiều. Những hàng dâu bát ngát ven đường, những khung cửi cất lên những tiếng dệt vải trong những đêm trăng ….tất cả tạo nên một bức tranh hoành tráng về thời hoàng kim của lụa Tân Châu.
    Ca dao Nam Bộ có câu:
    "Trai nào bằng trai hai huyện
    Tháng ngày dệt lụa trồng dâu
    Gái nào thảo bằng gái Tân Châu
    Thờ cha nuôi mẹ quản đâu nhọc nhằn"


    Nói về nghề tơ tằm, chúng ta thấy rằng đây là một trong những nghề thủ công truyền thống nổi tiếng ở An Giang. Nhìn lại lịch sử, khi chiếm được Nam Kỳ, một trong những nghề thủ công nghiệp mà Thực Dân Pháp quan tâm khai thác là nghề dâu tằm. Pháp chọn Tân Châu làm trọng điểm để thực hiện các biện pháp phát triển nghề tằm tơ cả Nam Kỳ nhằm cung cấp tơ tằm cho chính quốc. Chúng cho thành lập ở Tân châu một Viện tằm tơ (tháng 7/1908). Vì thế không có gì ngạc nhiên khi Tân Châu cũng là trung tâm sản xuất và buôn bán tằm tơ nổi tiếng ở Nam Kỳ và Campuchia lúc bấy giờ. Chính nhờ có Viện này mà tằm tơ được tuyển chọn những giống tốt cho năng suất và chất lượng cao để tiến hành nhân giống, đồng thời cũng tiến hành phổ biến kỹ thuật đến người dân trong vùng. Song song đó, Chính quyền lúc bấy giờ cũng đã miễn thuế đất cho diện tích trồng dâu và những chính sách hỗ trợ khác nữa. Vùng Tân Châu là vùng đất cù lao có đất đai, khí hậu thích hợp cho việc trồng dâu nuôi tằm. Năng suất trồng dâu và chất lượng tơ nơi đây tốt hơn những nơi khác. Lúc đầu nông dân nuôi những giống kén vàng nhưng sau đó với đà phát triển đã ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ nên nông dân đã chuyển sang nuôi những giống tằm lưỡng hệ trắng và các cặp lai của nó. Những giống tằm này cho năng suất cũng như chất lượng kén và tơ cao hơn. Tuy nhiên việc nuôi tằm rất cực nhọc nhất là vào thời điểm tằm ăn lên.

    Sau khi xử lý kén là đến giai đoạn ươm tơ. Trước đây nghề ươm tơ còn đơn giản theo lối cổ truyền như: kén được cho vào nồi nước sôi, sau đó kéo mối tơ và gắn vào bánh xa quay, người thợ ươm tơ khuấy đôi đũa liên hồi vào nồi nấu kén đồng thời tay cũng quay đều đầu bánh xe để cuộn tròn các sợi tơ. Quay mãi cho đến khi còn lại xác con tằm. Về sau nông dân đã cải tiến khâu ươm tơ sử dụng xa ươm tơ bông sen và cơ giới hoá để nâng cao năng suất và chất lượng tơ. Tơ thô sau đó được tháo ra từ các bó để se lại thành sợi to. Rồi được dệt lại thành những tấm lụa.

    Lụa Tân Châu nổi tiếng với thương hiệu Lãnh Mỹ A là một trong những loại mặt hàng “độc nhất vô nhị” mà bất kỳ người phụ nữ nào ở thế kỷ XX cũng đều mơ ước được mặc những chiết quần lãnh đầy nét quyến rũ này. Lãnh Mỹ A là một loại lụa dệt bằng tơ tằm, được gia công bằng những công thức rất độc đáo. Nó không có nhiều màu sắc như những loại vải hiện nay, nó chỉ có một màu đen huyền bóng loáng và không bao giờ phai màu. Điều đặc biệt và cũng là nét đặc trưng cho sản phẩm này chính là khả năng không co giãn và không hút ẩm của nó. Lãnh Mỹ A mặc vào mùa hè thì rất thoáng mát, mặt vào mùa đông thì ấm áp lạ thường . Dấu hiệu dễ nhận thấy được của những người thợ nhuộm lụa Tân Châu là đôi bàn tay bị đen do tiếp xúc với phẩm nhuộm. Nhưng điều đặc biệt ở đây là phẩm nhuộm không phải là những hoá chất được pha chế như hiện nay, nó là nhựa của một loại quả gọi là quả mặc nưa. Loại quả này có nguồn gốc từ Campuchia được những người thợ nhuộm mua quả chở về (mùa thu hoạch quả mặc nưa bắt đầu vào khoảng tháng 5 tháng 6). Sau đó người dân nơi đây tự trồng lấy, không ngờ loại cây này lại rất thích hợp với vùng đất Tân Châu.

    Cây mặc nưa là một loại cây gỗ có màu đen, thân già thì xù xì do có những mảng da bong ra, lá mỏng, chùm quả tròn trĩnh gần giống như quả nhản đung đưa trước gió. Những quả mặc nưa sau khi thu hái đem về được phân loại lớn nhỏ khác nhau và đặc biệt là loại bỏ những quả chín vì không còn nhựa nữa. Trái mặc nưa được đem về giã nát bằng cối đá hoặc bằng máy nghiền sau đó hoà vào nước tạo nên một dung dịch có màu vàng rất đẹp, màu này sẽ chuyển sang màu đen huyền khi tiếp xúc với không khí và nhiệt độ. Dung dịch này được gạn bỏ bả và được dùng để nhuộm lụa Tân Châu.

    [​IMG]

    Lụa sau khi nhuộm xong được phơi trong nắng, những bãi phơi lãnh rất rộng được trải bằng như tàu lá dừa hoặc trồng cỏ. Có những sân phơi làm những cộc phơi những cây hàng dài 20 mét. Lụa sau khi dệt xong thành từng cây màu trắng có những hoa văn đơn giản nhưng rất phù hợp với màu sắc đen huyền của lãnh. Những tấm lụa được nhúng vào trong dung dịch nước mặc nưa sau đó vắt kỹ đem ra nắng phơi, một ngày có thể nhuộm nhiều lần như thế rồi phơi. Cái đen huyền của nhựa mặc nưa thấm vào từng sợi tơ. Công việc này lặp đi lặp lại nhiều ngày nếu như thời tiết bình thường thì khoảng 40-45 ngày thì hoàn tất công đoạn nhuộm. Trong khi đó khoảng 5 đến 7 ngày người thợ nhuộm phải đem những cây hàng (đơn vị tính cho một cây lụa) đi nện (công đoạn bắt buộc khi gia công Lãnh Mỹ A, bởi lẽ sợi vải phải chịu tác dụng lực cơ học lên bề mặt mới tạo độ bóng bền cho lãnh). Lãnh sau khi phơi khô được quấn lại thành cuộn tròn và đem đi nện. Lúc trước những người thợ nện dùng những cây búa gỗ nện, những sau này họ sử dụng những máy nện hàng, những tiếng nện hàng đêm khuya tạo nên nét đẹp của vùng quê xứ lụa. Thế cũng chưa hết, lụa còn trải qua các giai đoạn hồ, xả nữa mới tạo được một tấm lụa Mỹ A tuyệt đẹp mang một màu đen huyền bóng loáng.

    Nghề trồng dâu nuôi tằm có lẽ cực thịnh nhất vào giai đoạn 1935-1965. Từ năm 1976 đến nay nghề trồng dâu nuôi tằm chỉ còn rải rác ở một số nơi. Công ty tơ lụa An Giang có trụ sở đóng ở Tân Châu sau một thời gian hoạt động đã đóng cửa do sản phẩm làm ra chi phí cao không cạnh tranh được với hàng vải ngoại nhập, hàng may mặc đã tràn ngập thị trường với giá rẻ, chính vì thế các hộ trồng dâu nuôi tằm đã chuyển sang làm những nghề khác.

    Giờ đây lụa Tân Châu đã không còn như trước nữa, những cảnh phơi lụa trên những cánh đồng, cảnh tất bật khi mưa đến, những câu hát vang cả khúc sông của những cô thiếu nữ xả lụạ chỉ còn trong ký ức. Nhưng những gì lịch sử đã ghi lại là mãi mãi.
    [​IMG]
    6. Nghề dệt của người Gia Rai
    (
    http://www.kontum.gov.vn/news/newsprint.php?pageid=0000000582)

    Nghề dệt là một nghề thủ công tương đối đặc sắc của người Gia-rai. Để dệt những bộ y phục, người Gia-rai đã biết trồng bông để tạo nguyên liệu, đây là một loại cây đã được trồng lâu đời trong các buôn làng người Gia-rai.

    Theo truyền thuyết dân gian Gia-rai, sau khi đã làm ra thế giới, muôn loài và con người, yang trời Kơ-dei tìm người thay mình quản mặt đất. Bà Tung là một trong những người được yang chọn lựa. Bà được phân công vừa cai quản thế giới của các hồn người chết, vừa phải quyết định số phận của tất cả mọi, người sống trên mặt đất. Bà dùng bột nặn thành hình từng đứa trẻ rồi cho nó lên mặt đất nhập vào những phụ nữ có thai. Mỗi đứa trẻ sắp sửa được đ*a đi đầu thai đều được bà Tung định sẵn cho nó một số phận.

    Trong nhà bà Tung có một khung dệt. Suốt ngày bà ngồi luồn đừng sợi chỉ để dệt một tấm vải dài. Tấm vải đó chính là cuộc đời của tất cả những con người trên mặt đất. Mỗi sợi chỉ là số phận của từng người. Cho nên các sợi chỉ cũng có những màu sắc khác nhau.

    Chất liệu tạo ra màu sắc dùng để nhuộm sợi được người Gia-rai lấy từ thực vật có sẵn trong môi trường sống của họ. Màu sắc là một thành tố hữu cơ của bố cục, tham gia vào bố cục để tạo nên chỉnh thể của trang phục. Người Gia-rai có cả một bảng màu tự nhiên thật phong phú bao gồm các màu: đen, đỏ, vàng, xanh, mỗi màu được chế từ một loại thực vật. Việc nhuộm sợi hoàn tất từ trước khi dệt vải. Sợi được chế tác từ quả cây bông và màu tự nhiên của nó bao giờ cũng là trắng, để tạo ra các màu sắc khác là cả một quá trình kinh nghiệm của người Gia-rai. Để có màu đen (htăm) hay màu xanh thẫm, họ dùng cây chàm. Các bước thao tác được tiến hành như* sau: đầu tiên người Gia-rai đi bắt một loại ốc suối có tên là bràng đem giã nhỏ, đổ nước vào lọc, lấy thứ nước đó đổ vào ché ngâm khoảng một tháng. Tiếp theo, dùng đọt chuối, vỏ chuối và rễ cây kha krông, kha chót bỏ chung vào cối giã cho thật kỹ, trộn tất cả với sợi trắng tự nhiên, rồi bỏ vào ché (vò sành) ngâm. Khi sợi đã ngả màu đen thì đem phơi khô. Nước nhuộm còn lại được cất giữ trong ché và khi cầnlại có thể sử dụng với các bước như* vừa mô tả.

    So sánh với người Ba-na (thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-khơme dân tộc sống cận cư với người Gia-rai, có nhiều nét văn hóa tương đồng, trong đó có kỹ thuật nhuộm sợi) thì việc tạo mầu đen cũng gần giống như người Gia-rai, có khác chăng chỉ là tên gọi theo ngôn ngữ dân tộc. Người Ba-na gọi mầu đen là găm, còn lá cây chàm nhuộm mầu đen là tơ ruum, về kỹ thuật làm ra mầu thì tương tự như người Gia-rai. Các màu còn lại như đỏ, vàng, xanh mà người Ba-na tọa ra không khác so với cách của người Gia-rai.

    Mầu đỏ (m’yah) trong trang phục của người Gia-rai chiếm một tỉ lệ khá đậm đặc. Để tạo ra màu đỏ, người Gia-rai chsử dụng “một loại quả không có lông” là nguyên liệu chính, ngoài ra còn kết hợp với vỏ cây tơnung. Người Gia-rai ở vùng Chư Pah còn tạo ra màu đỏ bằng cách dùng một loại cây có tên là nhau trộn với mỡ dê rồi đem đun thật sôi, sau đó lấy sợi tự nhiên mầu trắng nhúng vào đó, nhấc ra và nhúng vào loại nước xa bon (một loại thuốc mầu của người Lào). Thao tác đó được lặp đi lặp lại vài lần cho đến khi sợi vải có mầu đỏ tươi (thết) thì đem phơi khô.

    Trong y phục của người Gia-rai, màu vàng thường được coi như nét điểm xuyến, tạo nên sắc thái hài hòa theo thẩm mỹ của họ. Một số hoa văn như hoa cây mai, hoa blang (hoa gạo) dệt bằng loại sợi màu vàng. Để tạo ra màu vàng, người Gia-rai thường dùng củ knhít (nghệ) như các nhà nghiên cứu đã tìm hiểu. Ở vùng Gia-rai Aráp có một loài thực vật nữa được dùng để tạo ra màu vàng nhuộm sợi. Đó là loại lá popẹ. Phụ nữ Gia-rai thường đốt lá ấy rồi trộn với nghệ, sau đó giã nhỏ hòa với nước sôi để nhuộm. Cách làm này tạo cho sợi có mầu vàng tươi hơn nhiều so với màu tự nhiên từ nghệ.

    Duy nhất chỉ có sợi màu xanh (miêk), theo người dệt, đây là màu mới được du nhập chưa lâu và chất tạo màu là phẩm nhuộm hóa học mua trên thị trường, bao gồm cả màu xanh da trời lẫn màu xanh lá cây. Ưu điể của thứ sợi được nhuộm bằng các thảo mộc tự nhiên là sợi giữ được mầu tươi rất lâu, qua năm tháng thứ mầu đó không hề bị phai, bị nhạt. Từ các sợi với đủ thứ mầu sắc, người Gia-rai với bộ khung dệt bằng tay đã tạo ra trang phục của mình như: váy, khố, áo, khăn, chăn.

    Cũng giống như một số tộc người khác ở vùng Trường Sơn-Tây Nguyên, người Gia-rai dệt bằng tay với một bộ dụng cụ được các nhà dân tộc học gọi là khung dệt kiểu Inđônêdiêng, gồm nhiều bộ phận rời nhau và chỉ khi dệt chúng mới được liên kết lại thành một hệ thống có sự tham gia trực tiếp của chính người thợ dệt đó, nói cách khác, “người dệt cũng là một bộ phận của cái khung dệt”. Bộ khung dệt này, người Gia-rai gọi là mrai, cấu tạo gồm hai đoạn nứa tròn dài khoảng 1,20m (khoóng trên và khoóng dưới), một khoóng được áp vào lòng người dệt; một khoóng được treo cố định ở trên cao, có thể là xà nhà, trong khi dệt. Trước khi dệt, sợi dọc được giăng thật thẳng và thành một vòng kín, sắp xếp làm hai tầng trên vào dưới, ngăn cách bởi một thanh gỗ gọi là chor hay chrkô. Khi luồn sợi ngang sang để liên kết với các sợi dọc có một thanh gỗ khác dùng để dập sợi ngang áp sát vào nhau, thanh gỗ đó gọi là prư.

    Người phụ nữ Gia-rai không dệt trên khung cửi cố định như người Thái, người Mường, người Tày. Việc giang sợi thành một thảm chỉ dọc trước mặt người dệt được làm từ trước, rồi người phụ nữ đó ngồi một chỗ, đan sợi chỉ ngang qua thảm chỉ dọc đã định hình. Khi các sợi được giăng lên, cùng với sự tham gia của các bộ phận rời trong khung dệt kiểu Inđônêdiêng nói trên, tổng hợp lại được gọi là mrai. Khi hoàn thành một tấm vải dệt thì các bộ phận lại trở về với vị trí rời rạc ban đầu của nó. Trong vòng kín của sợi dọc, được xếp thành hai tầng trên vả dưới. Cách giăng sợi thành vòng kín đã làm cho tấm vải bị giới hạn về chiều dài. Độ dài của tấm vải chính là khoảng cách giữa hai khoóng nhân đôi (vòng kín hai tầng), độ dài này chỉ được giới hạn trong một mức độ cho phép, vì luôn luôn phải đảm bảo cho sợi dọc trước mặt người dệt được căng thẳng, trung bình mỗi tấm vải dài không quá 6 mét.

    Chiều dài của tấm vải bị hạn chế bởi khoảng cách của hai khoóng nhân đôi, nhưng khổ vải thì được mở rộng hơn. Tuy người Gia-rai dệt thủ công nhưng khổ vải rộng đạt trung bình đến 80cm, vì tấm vải thoát khỏi sự khống chế ngặt nghèo đối với chiều ngang và khổ vải không bị đóng khung lại trong lòng một khung cửi cố định như kiểu dệt của người Thái, Tày, Mường, …

    Người phụ nữ Gia-rai đan sợi ngang qua các sợi dọc để tạo nên mặt vải, được diễn ra mặt trên vòng kín của thảm dọc. Bộ khung dệt Gia-rai cho phép người dệt một cách từ từ theo nhịp đan chậm rãi của mình. Tầng trên sau khi đã được dệt thành mặt vải có thể hoán vị cho tầng dưới mới chỉ là những thảm dọc, việc luân chuyển đó cứ được diễn ra suốt trong quá trình dệt. Do việc dệt chỉ được tiến hành ở tầng trên nên ngay ở tầng này người dệt cũng phải phân thành hai tầng nhỏ hơn, cũng một tầng trên và một tầng dưới. Một tầng là các sợi lẻ 1, 3, 5, 7... một tầng là các sợi chẵn 2, 4, 6, 8... Hai tầng nhỏ ở mặt trên này được tuần tự và liên tục đảo vị trí cho nhau, trên xuống dưới, dưới lên trên và ng*ợc lại. Sau mỗi lần đảo, người dệt lại luồn sợi ngang qua khe hở của hai tầng vừa đảo, cứ thế liên tục điệp sợi ngang vào sợi dọc cho thành mặt vải.

    Chức năng của bộ phận chrkô làm nhiệm vụ của việc đảo hai tầng nhỏ này, đều đặn, trên xuống dưới, dưới lên trên. Chrkô có tác dụng giống như* chiếc go của khung dệt Việt, Mường, được người dệt nhẹ nhàng luồn qua khoảng cách nhỏ giữa hai tầng vừa đảo, sợi ngang được nằm giữa các sợi chẵn và lẻ của thảm dọc Bộ phận prư* có tác dụng dập cho sợi ngang mới luồn áp chặt vào sợi dọc.

    Người Gia-rai không tạo hoa văn bằng kỹ thuật in sáp ong, ghép vải màu hay thêu mà họ trực tiếp dệt hoa văn trong quá trình dệt vải. Do kỹ thuật dệt với sợi dọc chủ yếu là màu đen, màu chàm sẫm, được bố trí ngay những sợi màu tự nhiên – màu cơ bản như*: đỏ, vàng, trắng - để kết hợp với sợi ngang. Chủ yếu việc phối màu sắc đã hình thành ở trong đầu và sau khi dệt kết quả sẽ có một nền vải với những màu sắc và hoa văn theo ý muốn. Kỹ thuật dệt này bắt nguồn từ kỹ thuật dệt luồn sợi nh*ư đan có đặc thù từ phương Nam. Nó khác hẳn với nền vải màu nổi rõ ở phía Bắc với kỹ thuật dệt, đan chéo mũi hay thêu lát ghép vải để tạo nên những mảng trang trí mà điển hình là các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến như*: Hà Nhì, Cống, Lô Lô hay dân tộc Mông, Dao...

    Bộ khung dệt và kỹ thuật của người Gia-rai có những nh*ược điểm và *ưu điểm nhất định, khi so sánh với các khung dệt của một số tộc người thiểu số Ở miền núi phía Bắc như người Thái, người Mư*ờng là những dân tộc biết cách dệt hoa văn trên khung cửi.



    Nhược điểm đầu tiên và lớn nhất của kỹ thuật dệt Gia-rai là không thể dệt được một tấm vải dài bất kỳ theo ý muốn của mình. Tấm dệt đó chỉ có thể giới hạn trong khoảng 5 - 6m, tương ứng với khoảng cách của hai chiếc khoóng, vì sợi giăng theo thảm dọc và khép lại thành vòng tròn kín.

    Đành rằng dệt theo kiểu thủ công là lối dệt chậm rãi, từ từ nh*ưng kỹ thuật dệt của người Gia-rai có sự phối hợp của lối đan từng nút một, làm cho tốc độ dệt quá chậm.

    Ưu điểm của kỹ thuật dệt Gia-rai, tuy bị hạn chế về chiều dài, nh*ng chiều ngang của khổ vải không bị khống chế - vì khổ vải không bị đóng khung cố định như* kiểu khung của người Thái, người Tày, nên nhiều tấm vải có khổ rộng 1m, thậm chí hơn.

    7. Thổ Cẩm
    (Trích bài "Hoa trần gian" Nguyễn Xuân Hiệu - Hà Phong đăng trên VietNamNet)

    ù là người miền xuôi hay miền ngược, chắc ai cũng từng được nhiều lần nghe nhắc đến áo chàm, vải thổ cẩm. Thổ cẩm với những hoa văn đẹp rực rỡ thể hiện tâm hồn, tính cách của đồng bào dân tộc, đi vào lòng người nhẹ nhàng như mưa bụi bay, thấm dần, thấm dần. Sắc màu đen và trắng, đỏ và xanh... đan xen nhau bởi những bàn tay "nghệ sĩ" tài hoa và biến thành giấc mơ có thực.

    Với người Thái, các bé gái đã biết giúp mẹ xe sợi, dệt vải, nhuộm chàm... từ khi còn nhỏ. Bóng dáng người con gái dịu dàng, nhẫn nại, chịu thương, chịu khó ngồi dệt luôn là hình ảnh quen thuộc từ bao đời. Vô số chàng trai đã bị hút hồn, mê mệt, say sưa khi bắt gặp bóng dáng người em gái đang nghiêng đầu bên khung cửi, môi hồng mím chỉ, đôi bàn tay chao thoi mềm mại như múa. "Hoa trần gian" là tấm thổ cẩm hay chính là người em gái?
    Dệt thổ cẩm, chất liệu chủ yếu sử dụng là bông vải. Những nương bông đến mùa thu hoạch, nở bung trắng tinh như dâng hiến. Bông thu lấy cả hạt mang về, phơi nắng thật khô, sau đó cán bỏ hạt, kéo thành sợi, nhuộm màu, xử lý hồ bằng bột ngô nấu rồi mới mắc hoa, đưa lên khung cửi (Lang ký).

    [​IMG]

    ể có tấm thổ cẩm lung linh màu sắc, không thể thiếu cây, quả từ thiên nhiên dùng để "hóa" màu cho sợi. Chàm cho màu đen xanh, quả "mák phét" cho màu đỏ tươi, củ nâu cho màu nâu, rễ cây "mạy hém" cho màu vàng... Khi muốn có màu tím, người ta nhuộm giữa chàm và nâu. Thứ màu tím này lạ lắm, long lanh trước ánh sáng khiến ta mơ hồ chẳng dám chắc hẳn đấy có là màu tím hay không?

    Trong các loại nguyên liệu tự nhiên dùng pha màu nhuộm sợi, ở gần nhà và dễ lấy nhất có lẽ là "mák phét". Cây "mák phét" thân thấp, cành la đà xoã ngang mặt đất, bông trổ vào giêng, hai, quả chín tháng năm, tháng sáu. Lũ trẻ nghịch ngợm thường hay hái "mák phét" chín, bôi hồng má nhau, rồi cùng bắt chước hát đối đáp như lứa đàn anh, đàn chị. Chán trò này, chúng lại rủ nhau ngồi lên cành "mák phét" chơi trò nhong nhong phi ngựa.

    Người lớn không nỡ trách bọn trẻ nghịch dại. Bản, mường vẫn còn nghèo lắm, thiếu chỗ cho con trẻ chơi, nên chẳng ai nỡ lòng nào cắt ngang niềm hứng khởi, cấm lũ trẻ đang vui. Còn bọn trẻ, chúng hét hò sung sướng, vô tư tận hưởng những khoảnh khắc thương mến của tuổi thơ, không hề để ý đến việc "mák phét" giúp mẹ, chị có được màu đỏ tươi rói để nhuộm sợi.

    Nhưng chàm mới chính là nền chủ đạo trong sắc màu thổ cẩm. Lá chàm mang từ nương về, rắc thêm vôi rồi ngâm ủ cho đến khi nổi váng đỏ mới vớt ra, sau đó được vò nát để lọc lấy bột chàm. Bột chàm đen xanh, mịn mát tay, khi nào nhuộm đem bỏ vào chum, quấy đều thật mạnh cho đến khi bọt nổi bám quyện vào nhau như đám trứng ếch mới thôi.

    Đợi vài ngày sau, cho đến khi nước chàm chuyển từ màu đen sang màu lá mạ thì các mẹ, các chị bắt đầu thả sợi hoặc vải thô trắng vào trong đó để nhuộm. Dẫu có đứng từ đằng xa, cũng ngửi được mùi chàm ngái trên tay các mẹ, các chị. Bàn tay người lao động, xù xì, đầy những nứt nẻ dọc ngang, sau buổi nhuộm vất vả, màu chàm lặn vào gột mãi vẫn để lại những vết đen mờ. Có nhìn thấy thế, ta mới hiểu và biết thương chiếc áo chàm đang mặc.

    Ngày nay, rất ít người mặc trên mình chiếc áo chàm ngan ngát mùi rừng. Khoác lên người bộ áo quần may theo lối thời trang, không biết lúc ấy còn có ai nhớ đến chiếc áo chàm dung dị? Mỏi mắt tìm khắp các sườn non, vắng hẳn bóng những nương chàm biếc xanh màu lam ngọc, đều tăm tắp như trải thảm.

    [​IMG]

    Thỉnh thoảng thấy ai đó mặc chiếc áo chàm, lại gần nhìn thật kỹ, hoá ra là được nhuộm bằng màu hoá học có sẵn. Nếu cứ thế này, thì nghề dệt, nhuộm truyền thống của người xưa biết có còn tồn tại được đến mai sau? Không lẽ rồi đây chỉ còn nhìn thấy những chiếc áo chàm thực thụ treo trong Viện Bảo tàng Dân tộc học?

    Lớp trẻ nói rất thẳng thừng: "Áo chàm vừa dễ phai, vừa hắc, sắc màu lại đơn điệu. Tội gì không dùng vải dệt công nghiệp, bền màu, nhiều mẫu mã đẹp, lại rẻ. Tiếc chi chiếc áo chàm?". Người già trầm ngâm suy nghĩ: “Ý kiến của bọn trẻ không phải không có lý”. Cuộc sống luôn hướng lên, không ai câu nệ, bó buộc đến mức bắt mọi người suốt ngày phải mang trên mình chiếc áo chàm. Không thể bắt con người suốt ngàn năm khoác trên mình thứ y phục không thay đổi.

    Nhưng nếu nghề dệt truyền thống mất đi thì không gian văn hoá từng tồn tại xung quanh nghề dệt cũng sẽ không còn. Chính nghề dệt đã góp phần tạo nên văn hoá "hạn khuống" (sân sàn) rất riêng biệt của người Thái. Vào những đêm trăng sáng, bầu trời và mặt đất thênh thang gió ngàn, "hạn khuống" luôn là nơi để nam thanh, nữ tú hẹn hò và gặp gỡ. Con gái se sợi, thêu thùa, con trai đan lát, đánh đàn "tính tẩu".

    Vâng, dệt, thêu thổ cẩm không giản đơn chỉ để làm ra sản phẩm. Mất nghề này là mất đi một phần hồn cốt văn hoá đã ăn sâu vào nếp sinh hoạt của người dân miền núi vốn quen sống thật thà, chất phác, hồn nhiên. Thổ cẩm, loài hoa hiện ra từ trên khung cửi, để cho ta cúi nhìn và đọc những bức thông điệp bằng hình ảnh, để tâm tưởng ta chẳng thể dửng dưng trước "thế giới" thổ cẩm tĩnh lặng, không lời nhưng nói lên rất nhiều điều.
    8. Vải cung đình Huế
    (
    http://www.suutap.com/Hue/default.asp?id=523&muc=10&nhomtheotua=23&trang=1&xeptheotua=-1&xeptheotacgia=-1)

    Người thợ phải tự nhuộm chỉ bằng màu tự chọn với những sắc độ theo yêu cầu của đề tài. Tòan bộ chỉ trong ngành thêu cổ truyền ở Huế đều bằng tơ tằm. Vùng chợ Cống ở Huế chuyên sản xuất các lọai chỉ cho ngành thêu, chỉ tơ mảnh, sợi mướt nhiều xơ, bằng phương thức thủ công, người ta xe lại lớn hay nhỏ tùy theo kỹ thuật xe đôi, xe ba, xe tư hay xe sáu! Chỉ thêu được làm bằng các lọai tơ nỏn bóng, mịn. Độ bóng của chỉ góp phần quan trọng trong việc tạo độ đậm nhạt, tối sáng của bức thêu.

    Để có chỉ thêu tốt, ngòai việc mua một số phẩm nhuộm của Trung Quốc, người thợ thêu Huế còn tự nhuộm theo công thức riêng với màu sắc khai thác trong thiên nhiên như củ nâu, cây chàm, vỏ bàng, nước điệp, lá vông, đá mài, hoa hòe... Có khi để có một màu mới, người thợ nhúng chỉ phủ lên hai màu khác nhau. Chẳng hạn như để có chỉ đen chàm, người ta nhuộm màu lục rồi phủ lên đó màu đỏ. Để có màu lục da chai là sự phối hợp hai lần nhuộm trên màu lục và nước đen chàm lõang. Màu đỏ tươi được nhuộm từ việc dùng chỉ cánh sen nhúng thêm lần nữa vào nước nhuộm đều.

    Khi chỉ thêu đã ổn định, người thợ lại nhúng nó vào nước chanh chua để giữ bền màu. Trung bình mỗi màu chỉ có 5 gam đậm nhạt. Có trường hợp trên một con chỉ, người ta nhúng vào nước nhuộm theo tính toán mà người thợ đã hình dung cho từng mảng màu muốn thể hiện.

    9-Dệt thổ cẩm- Người Ba na
    (
    http://www.baobinhdinh.com.vn/564/2003/4/2993/)

    [​IMG]

    Đã có thời kỳ tại 2 xã vùng cao Đăk Mang và Bok Tới (Hoài Ân) nghề dệt thổ cẩm của người Ba na phát triển rất mạnh. Họ đã dệt nên những tấm chăn, thảm vải, những bộ trang phục trong cuộc sống thường ngày cũng như trong lễ hội mang những nét đặc trưng riêng của người Ba na. Tiếc thay, nghề này hiện đang dần mai một.

    * Nét đẹp thổ cẩm

    Đã có thời kỳ tại 2 xã vùng cao Đăk Mang và Bok Tới (Hoài Ân) nghề dệt thổ cẩm của người Ba na phát triển rất mạnh. Họ đã dệt nên những tấm chăn, thảm vải, những bộ trang phục trong cuộc sống thường ngày cũng như trong lễ hội mang những nét đặc trưng riêng của người Ba na. Hiện nay, cách nhuộm vải của người Ba na ở đây cũng giống như người Ba na Tây Nguyên: nhuộm bằng màu mực của các loại cây rừng, sắc màu thường là đỏ, nền đen. Những đường nét màu sắc hoa văn thể hiện trên trang phục đều mang ý nghĩa khác nhau theo quan niệm của người Ba na. Màu đen được nhuộm bằng lá cây cham, cây mô, thường là màu nền của mỗi tấm vải, biểu hiện cho đất đai, cho sự nảy mầm từ mặt đất, độ che phủ của cây rừng mà suốt cả cuộc đời con người phải gắn chặt với nó kể cả khi họ đã trút hơi thở cuối cùng. Màu đỏ biểu hiện cho màu của lửa, của máu, tượng trưng cho sức sống, sự vươn lên, niềm đam mê, tình yêu và khát vọng, được nhuộm bằng nhựa cây Kxang, Kơ bai. Màu vàng biểu hiện cho ánh sáng mặt trời, sự kết hợp hài hòa giữa con người và tự nhiên, được nhuộm bằng củ nghệ hay màu của cây Kmếch. Màu xanh biểu hiện cho màu da trời, màu của cây lá được nhuộm bằng nhựa cây truông nhây, cây Kpai…

    Ngày nay đồng bào Ba na đã chọn cây bông, cây lanh trồng trên rẫy để lấy sợi vải thay cho những vỏ cây rừng trước kia. Để dệt nên 1 tấm vải, người Ba na đã tạo ra 1 khung dệt thủ công đơn giản bằng cây. Tuy dụng cụ dệt vải đơn giản là vậy nhưng qua sự khéo léo của các cô gái miền sơn cước thảm vải được dệt xong trông thật đẹp mắt vì các hoa văn rõ nét nổi bật lên trên nền vải với những sợi dọc sợi ngang đan vào nhau thật sắc sảo.

    Việc dệt được một tấm vải là cả một quá trình. Váy, áo... dệt mất từ 30-35 ngày và có thể còn lâu hơn tùy thuộc vào số lượng hoa văn trên vải nhiều hay ít và người dệt có khéo tay hay không. Mí Ý, 74 tuổi, người phụ nữ dệt vải lớn tuổi nhất của xã Bok Tới cho chúng tôi biết: Giống như các dân tộc Ba na Tây Nguyên, bất cứ một cô gái nào lớn lên từ 12-13 tuổi cũng đều được bà mẹ chỉ cho cách dệt vải và đến trước khi bắt chồng, cô gái phải tự dệt cho mình một bộ y phục thật đẹp để ra mắt mọi người và để dệt bộ y phục này họ phải tốn rất nhiều tâm huyết… Trong quá trình dệt thì bắt hoa văn là khó nhất, phải làm tỉ mỉ, khéo léo mới đẹp. Hoa văn làm nhanh nhất là 1 tuần. Vào ngày lễ hội truyền thống của dân làng, cô gái nào có bộ váy áo đẹp sặc sỡ thì được đánh giá là người chăm chỉ, giỏi giang; nếu là con gái chưa chồng thì được trai làng để ý đến. Hòa cùng âm điệu của tiếng cồng chiêng và hương men những ché rượu cần, những bộ trang phục được làm từ hàng thổ cẩm đã thật sự làm nên nét đẹp văn hóa riêng của người miền núi nói chung và người Ba na nói riêng.

    * Cảnh báo về sự mai một

    Tiếc thay, theo số liệu điều tra mới đây, ở 2 xã Đăk Mang và Bok Tới, hiện nay chỉ còn 20 hộ còn khung vải, dụng cụ. Ông Đinh Xuân Á – Chủ tịch UBND xã Bok Tới, cho biết: Hiện nay nghề dệt thổ cẩm đã giảm nhiều công đoạn, người Ba na không còn trồng bông, se sợi nhuộm màu như trước nữa mà chỉ việc mua từ dưới xuôi lên, nhưng việc dệt vải không còn thường xuyên, sản phẩm làm ra chỉ đáp ứng nhu cầu cần thiết của gia đình. Số người biết dệt vải ngày càng hiếm, hầu hết ở tuổi từ 35-40 trở lên… Đây chính là dấu hiệu cảnh báo sự mai một của một nghề truyền thống của đồng bào dân tộc. Theo lời những nghệ nhân khéo tay thì sự mai một của nghề dệt thổ cẩm là do sản phẩm làm ra không tiêu thụ được, thời gian hoàn thành sản phẩm lại rất lâu không phù hợp với nhu cầu đời sống hiện tại. Trước đây vải để làm thổ cẩm là bông thì bây giờ mua chỉ của người Kinh dưới xuôi, học trò mới cũng ít, vật liệu mua của người Kinh lại không đảm bảo chắc chắn để dệt. Bên cạnh đó, điều kiện giao lưu giữa miền núi và miền xuôi không còn khó khăn như ngày trước, hàng may mặc sẵn lại rẻ tiền, phù hợp với nhu cầu thị hiếu của lớp trẻ vùng cao, đồng thời sự hòa nhập với lối sống của người Kinh khiến cho lớp trẻ không còn muốn mặc trang phục truyền thống nữa…

    Anh Võ Chí Hà, cán bộ của Trung tâm VHTT huyện Hoài Ân cho biết: “Để gìn giữ và phát huy nghề dệt thổ cẩm, Trung tâm VHTT huyện đã đề nghị tổ chức lễ hội văn hóa cho đồng bào dân tộc của địa phương. Nghề dệt thổ cẩm được tổ chức thi 2 năm một lần thực hiện trong 4 năm trở lại đây ở các cấp Hội phụ nữ. Mới đây, huyện tổ chức thi văn hóa dân tộc miền núi có phần thi trang phục truyền thống để giữ nghề. Dù vậy cũng chỉ là níu kéo để nghề không bị mai một theo thời gian, chứ thực tế hướng mở cho nghề này không mấy sáng sủa”.

    Bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc là một việc làm cần thiết. Theo chúng tôi, để nghề dệt thổ cẩm không bị mai một trước hết cần có quy định cho đồng bào dân tộc phát huy việc mặc trang phục truyền thống trong các ngày lễ hội, đồng thời thường xuyên tổ chức các hoạt động truyền thống cho họ. Đối với các trường nội trú, trường phổ thông có học sinh người dân tộc nên khuyến khích họ mặc y phục truyền thống của dân tộc mình. Chỉ có vậy mới mong giữ được nghề dệt thổ cẩm trong một bộ phận người Ba na
    10- Điều nhuộm (Wikipedia.com)

    [​IMG]

    Điều nhuộm hay còn gọi là điều màu, cà ri (danh pháp khoa học: Bixa orellana) là một loài cây bụi hay cây gỗ nhỏ thuộc họ Điều nhuộm (Bixaceae), có nguồn gốc từ khu vực nhiệt đới của châu Mỹ. Trong tiếng Nahuatl tên gọi của nó là achiotl, nghĩa là cây bụi. Trong tiếng Tupi tên gọi của nó là urucu. Nó được trồng tại khu vực này và tại khu vực Đông Nam Á, do người Tây Ban Nha đưa tới đây trong thế kỷ 17. Nó là nguồn cung cấp chính cho một loại chất màu tự nhiên, gọi là annatto có màu vàng đỏ, sản xuất từ quả. Điều nhuộm có hoa màu hồng và quả có gai màu đỏ tươi, chứa các hạt màu đỏ. Quả khô và cứng thành dạng quả nang màu nâu.

    Quả không ăn được nhưng được thu hoạch để lấy hạt, trong đó có chứa chất bixin, thành phần chính của annatto. Nó có thể được chiết ra bằng cách ngâm hạt vào trong nước. Nó được dùng để tạo màu thực phẩm, chẳng hạn như bơ, cá và dầu ăn. Nó cũng là thành phần chính trong một loại gia vị kiểu Mexico gọi là recado rojo, tức "bột điều nhuộm nhão". Hạt điều nhuộm được sử dụng làm phụ gia màu gần như không vị trong ẩm thực châu Mỹ La tinh, Jamaica và Philipines.

    Miêu tả

    Cây cao 5-10 m, dạng bụi. Lá đơn mềm, nhẵn, hình ba cạnh, đầu nhọn. Hoa tương đối lớn, có màu tía hay trắng, mọc thành chùy ngắn ở đầu cành. Quả mọc chùm, hình tim, đỏ tươi đến nâu khô khi chín, trên mặt có gai mềm, mở bằng hai van, mỗi mảnh mang chứa nhiều hạt. Hạt hơi có dạng lập phương trên một cuống ngắn, xung quanh tẽ nở thành áo hạt ngắn màu đỏ.

    Thành phần hóa học

    Quả chứa nhiều vitamin A (khoảng 3,2 g cho mỗi 100 g quả), ngoài ra còn có nhiều selenium, magiê, canxi.

    Sử dụng

    Làm màu nhuộm

    Tại Đông Nam Á, người ta thu hái hạt để làm chất nhuộm màu, chính vì thế mà loài này có tên gọi điều nhuộm. Hạt điều nhuộm đã được thổ dân châu Mỹ sử dụng từ rất lâu để làm thuốc màu vẽ lên cơ thể, đặc biệt là môi, vì thế mà đôi khi nó còn được gọi tại khu vực này như là "cây son môi". Điều nhuộm còn được dùng làm chất nhuộm màu thực phẩm (mã châu Âu E160b).

    [​IMG]
    11- Mặc nưa- (Nhuộm Lãnh Mỹ A)
    (Wikipedia.com)
    [​IMG]
    Mặc nưa, danh pháp khoa học: Diospyros mollis là một loài cây mộc cỡ trung bình thuộc chi Thị. Mặc nưa phổ biến ở miền Nam Việt Nam, Campuchia, Lào, Thái Lan và Myanma.

    Miêu tả


    Lá mặc nưa khá dầy, nhẵn mặt, nhọn mũi, dài khoảng 5-12 cm. Sắc hoa vàng nhạt. Hoa đực mọc thành chùm 1-3 bông. Hoa cái mọc đơn.

    Trái mặc nưa hình cầu, màu xanh, khoảng 1-2 cm đường kính. Mỗi trái chỉ có một hột.

    Sử dụng

    Trái mặc nưa có nhiều tannin, theo công nghệ cổ truyền thì dùng để nhuộm vải màu đen.

    [​IMG]
    11- Mặc nưa- (Nhuộm Lãnh Mỹ A)
    (Wikipedia.com)
    [​IMG]
    Mặc nưa, danh pháp khoa học: Diospyros mollis là một loài cây mộc cỡ trung bình thuộc chi Thị. Mặc nưa phổ biến ở miền Nam Việt Nam, Campuchia, Lào, Thái Lan và Myanma.

    Miêu tả


    Lá mặc nưa khá dầy, nhẵn mặt, nhọn mũi, dài khoảng 5-12 cm. Sắc hoa vàng nhạt. Hoa đực mọc thành chùm 1-3 bông. Hoa cái mọc đơn.

    Trái mặc nưa hình cầu, màu xanh, khoảng 1-2 cm đường kính. Mỗi trái chỉ có một hột.

    Sử dụng

    Trái mặc nưa có nhiều tannin, theo công nghệ cổ truyền thì dùng để nhuộm vải màu đen.

    [​IMG]

    [​IMG]
    Phát triển sản phẩm dệt may sinh thái - giải pháp giúp ngành dệt may Nhật Bản tồn tại

    Thời trang sinh thái (Eco-fashion) không chỉ là một khái niệm được nhiều người quan tâm, mà hiện nay nó còn cung cấp một công cụ kinh tế hữu hiệu cho các hãng dệt may Nhật Bản.

    Các sản phẩm mới thân thiện với môi trường được làm từ một loạt các chất liệu bảo vệ môi trường từ cotton tái sinh cho đến sợi cashmere được nhuộm theo phương pháp hữu cơ hay như sự đổi mới vượt bậc trong chu trình sử lý để tạo ra các sản phẩm len có độ đàn hồi cao mà không sử dụng hóa chất. Tất cả những thành tựu này đều được trưng bày tại hội chợ thương mại ngành dệt may tổ chức tại Pari để giới thiệu các mẫu thiết kế hàng đầu của hàng thời trang thế giới.

    Những công ty dệt may Nhật Bản có thể sống sót và cạnh tranh trên thị trường nhờ phát hiện ra những sản phẩm mới này vì gần như các hãng sản xuất hàng dệt may giá rẻ của Nhật đã phải đóng cửa do không thể cạnh tranh với Trung Quốc.

    Giới nghiên cứu cho rằng thị trường dệt may thân thiện với môi trường đang nổi lên như một lĩnh vực mới để các công ty Nhật Bản đón đầu và phát triển.

    Fujitex, công ty hiện đã có uy tín trên thị trường cao cấp cũng thiết lập một danh mục các sản phẩm sợi cashmere được nhuộm bằng loại thuốc nhuộm chiết xuất từ thực vật như cây lựu, cây keo và cây đinh hương.

    Đại diện công ty cho biết họ đang nổ lực để triển khai sử dụng các lọai thuốc nhuộm tự nhiên thay cho thuốc nhuộm hóa học dựa trên cơ sở xem xét các vấn đề môi trường, một vấn đề nóng hiện nay được cả thế giới quan tâm.

    Các sản phẩm dệt may Tarui cũng đựơc chuyển thành tên gọi “eco.wash” vì công ty đã sử dụng chất liệu sử lý thân thiện với môi trường vào loại bậc nhất thế giới để hạn chế sự giãn của len khi tiếp xúc trực tiếp với nước.

    Theo đó , hãng đã sử dụng ozone, một chất liệu tự nhiên thay về chlorine hóa học vốn là chất gây ô nhiễm môi trường. Vì ozone sau khi thải ra sẽ quay lại tự nhiên và chuyển thành oxi. Ozone cũng là chất gây thổ ráp cho sợi, mang lại cảm giác mềm mại hơn.

    Cùng với việc sử dụng 100% chất liệu cotton tái sinh cho chất liệu vải bông xù dùng để sản xuất khăn mặt, hàng dệt kim, các chuyên gia Minami đã phát hiện ra một cách mới để thu gom chất thải thải ra trong quá trình sản xuất loại áo khoác da lông chồn. Theo đó, trong quá trình dệt sẽ bổ sung thêm chất mềm, bên cạnh lông vốn thừơng bị bỏ đi, cùng với cotton hữu cơ để tạo ra những sản phẩm dệt may cao cấp riêng lẻ không trực tiếp gây sự chú ý của các cơ quan môi trường về bảo vệ các loại lông thú.

    Miyashin cũng đang tiến hành thử nghiệm bổ sung tre và giấy truyền thống của Nhật vào chất liệu lụa. Sợi sản xuất được theo công thức này có vẻ nặng hơn nhưng trên thực tế có độ sáng bống không ngờ tới, đôi khi tạo ra được những sản phẩm có màu da quả đào rất bắt mắt.

    Trong khi đó, công ty Takahashi lại phát hiện ra một công dụng mới cho loại cotton sử dụng rất lâu dài để sản xuất quần áo khoác cho các vận động viên judo và sợi để sản xuất vải bọc ghế sofa.

    Đại diện ngành dệt may Nhật Bản khẳng định chìa khóa của sự thành công là sự đổi mới, các công ty không ngừng tìm tòi và sản xuất ra các chất liệu mới để tồn tại và đứng vững trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt hiện nay.(Theo TT Thương Mại)





    [/I]


    (tài liệu sưu tầm)
  2. chi08209001

    chi08209001

    Tham gia ngày:
    21 Tháng mười 2010
    Bài viết:
    1
    Đã được thích:
    0
    Điểm thành tích:
    0
    Ðề: nhuộm vải

    thanks hjhj good.good, good
  3. bimcorp.vn

    bimcorp.vn

    Tham gia ngày:
    4 Tháng một 2017
    Bài viết:
    6
    Đã được thích:
    0
    Điểm thành tích:
    3
    Giới tính:
    Nam
    Ôi sao không làm việc với vinatex để hỗ trợ nghiên cứu khả thi ứng dụng dệt trong một cơ sở nào đó để được đánh giá kỹ hơn nhỉ. Nếu có công nghệ làm được thì sẽ giảm được ô nhiễm rất nhiều,